Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3
Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký
x
Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng củaquốc gia, được xây dựng trên núi Hùng - thuộc đất Phong Châu - vốn là đất kế đôcủa Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùavà 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùngvĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ.
Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng (còn gọi là núi Cả theo tiếng địa phươnghay còn có nhiều tên gọi khác nhau: Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn,Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn,…), có độ cao 175 m so với mặt nước biển. Tụctruyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam , mình rồng uốn khúc thành núiVặn, núi Trọc, núi Pheo,…. Núi Vặn cao 170m, xấp xỉ núi Hùng. Núi Trọc nằm giữanúi Hùng và núi Vặn, cao 145 m. Ba đỉnh núi: núi Hùng, núi Vặn, núi Trọc theotruyền thuyết là ba đỉnh “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời.
Toàn khu di tích Đền Hùng xưa kia là rừng già nhiệt đới, đến nay chỉ còn núiHùng là rậm rạp xanh tươi với 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn sótlại một số cây đại thụ như chò, thông, lụ,…và một vài giống cây cổ sơ như kimgiao, thiên tuế,..
Từ chân núi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng lần lượt các di tích kiến trúc như:
1. Cổng đền
2. Đền Hạ
3. Nhà bia
4. Chùa Thiên Quang
5. Đền Trung
6. Đền Thượng
7. Đền Giếng
8. Đền Tổ Mẫu Âu Cơ
9. Bảo tàng Hùng Vương
Cổng Đền
Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917). Cổng xây kiểu vòm cuốn cao 8,5m,hai tầng 8 mái, lợp giả ngói ống. Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cộttrụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc tầng mái trang trí Rồng, đắp nổihai con Nghê. Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù điêu hai võ sỹ, một người cầmgiáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hổ phù. Giữa tầngmột có đề bức đại tự: “Cao sơn cảnh hành” (lên núi cao nhìn xa rộng). Còn cóngười dịch là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao). Mặt sau cổng đắp haicon hổ là hiện thân vật canh giữ thần.
Đền Hạ
Tương truyền nơi đây, Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành 100người con trai, nguồn gốc “đồng bào” (cùng bọc) được bắt nguồn từ đây. Dấu tíchgiếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng nay vẫn còn ở phía sau đền.
Đền Hạ được xây dựng lại trên nền đất cũ vào thế kỷ XVII - XVIII. Kiến trúckiểu chữ “nhị” gồm hai toà tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau1,5m. Kiến trúc đơn sơ kèo cầu suốt, bẩy gối vào đầu kèo làm cho mái sau dàihơn mái trước. Đốc xây liền tường với đốc Hậu cung, hai bên đắp phù điêu, mộtbên voi, một bên ngựa. Bờ nóc phẳng, không trang trí mỹ thuật. Mái lợp ngóimũi, địa phương gọi là ngói mũi lợn.
Ngay chân Đền Hạ là Nhà bia với kiến trúc hình lục giác, có 6 mái. Trên đỉnh cóđắp hình nậm rượu, 6 mái được lợp bằng gạch bìa bên trong, bên ngoài láng ximăng, có 6 cột bằng gạch xây tròn, dưới chân có lan can. Trong nhà bia trướcđây đặt tấm bia ghi lại việc tu sửa đường lên núi Hùng, hiện nay đặt bia đá,nội dung ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày19/9/1945:
“Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Gần Đền Hạ có một ngôi chùa, xưa có tên là Sơn cảnh thừa long tự, sau đổi làThiên quang thiền tự. Chùa được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các nhà:tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước, dãyhành lang, nhà Tổ ở phía sau. Các toà được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gốiđầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lập ngói mũi, đầu đao cong. Bờ nóctiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt. Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa.
Trước cửa chùa có cây thiên tuế là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện vớicán bộ và chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong trước khi về tiếp quản thủ đô HàNội. Trước sân chùa có 2 tháp sư hình trụ 4 tầng. Trên nóc đắp hình hoa sen.Lòng tháp xây rỗng, cửa vòm nhỏ. Trong tháp có bát nhang và tấm bia đá khắc têncác vị hoà thượng đã tu hành và viên tịch tại chùa.
Chùa còn có một gác chuông được xây dựng vào thế kỷ XVII, gồm 3 gian, 2 tầngmái, 4 vì kèo cột kiểu chồng giường kết hợp với bẩy lẻ. Các bẩy lẻ hầu như đểtrơn không chạm trổ gì. Trên gác chuông có treo quả chuông, không ghi niên đạiđúc chuông mà chỉ ghi: “Đại Việt quốc, Sơn Tây dạo Lâm Thao phủ, Sơn Vi huyện,Hy Cương xã, Cổ Tích thôn cư phụng”. Qua đó có thể đoán quả chuông được đúcthời Hậu Lê.
Đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu)
Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắmcảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước. Nơi đây vua Hùng thứ 6 đã nhường ngôicho Lang Liêu - người con hiếu thảo vì đã có công làm ra bánh chưng, bánh dày.
Đền được xây theo kiểu hình chữ nhất, có 3 gian quay về hướng nam, dài 7,2m,rộng 3,7m. Mái hiên cao 1,8m, không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường,bít đốc tường hậu, phía trước mở 3 cửa.
Đền Thượng
Đền Thượng được đặt trên đỉnh núi Hùng. Tương truyền rằng thời Hùng Vương, VuaHùng thường lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để tiến hành nghi lễ tín ngưỡng của cư dânnông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màngtươi tốt, nhân khang vật thịnh.
Tục truyền đây còn là nơi vua Hùng thứ 6 lập đàn cầu trời ban cho người tài ragiúp nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vuaHùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vuaHùng vào thờ cúng. Đền Thượng có tên chữ là “Kính thiên lĩnh điện” (Điện cầutrời) còn có tên là “Cửu trùng tiên điện” (Điện giữa chín tầng mây). Trong ĐềnThượng có bức đại tự đề “Nam Việt triệu tổ” (Tổ khai sáng nước Việt Nam). Đền đượclàm kiểu chữ Vương, kiến trúc đơn giản, kèo cầu, không có chạm trổ, được xâydựng qua bốn cấp khác nhau gồm: nhà chuông trống (cấp I), đại bái (cấp II),tiền tế (cấp III) và hậu cung (cấp IV).
Bên phía tay trái Đền có một cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khiđược Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà HùngVương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương. Cột đá cao1,3m, rộng 0,3m, hình vuông. Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệnhư hiện nay.
Lăng Vua Hùng
Lăng Hùng Vương tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đôngĐền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam.Xưa là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng lăng. Thời KhảiĐịnh tháng 7 (1922) trùng tu lại. Lăng hình vuông, cột liền tường, có đao cong8 góc, tạo thành 2 tầng mái. Tầng dưới 4 góc đắp 4 con rồng tư thế bò, tầngtrên đắp rồng uốn ngược, đỉnh lăng đắp hình “quả ngọc” theo tích “cửu longtranh châu”. Mái đắp ngói ống, cổ diêm, 3 phía đều đắp mặt hổ phù. Ba mặt Tây,Đông, Nam đều có cửa vòm, 2 bên cửa đều đắp kỳ lân, xung quanh có tường baoquanh, trang trí hoa, chất liệu bằng đá. Trong lăng có mộ Vua Hùng. Mộ xây hìnhhộp chữ nhật dài 1,3m, rộng 1,8m, cao 1,0m. Mộ có mái mui luyện. Phía tronglăng có bia đá ghi: Biểu chính (lăng chính). Phía trên ba mặt lăng đều có đề:Hùng Vương lăng (Lăng Hùng Vương).
Đền Giếng (tên chữ là Ngọc Tỉnh)
Tương truyền là nơi hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùngthứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Hai bàcó công dạy dân trồng lúa nước và trị thuỷ nên được nhân dân lập đền thờ phụngmuôn đời. Đền được xây dựng vào thế kỷ XVIII, theo hướng Đông Nam, kiến trúckiểu chữ công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi vồ và 2nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền bái với hậu cung.
Cổng Đền Giếng được xây vào thế kỷ XVIII, kiểu dáng gần giống cổng chính nhưngnhỏ và thấp hơn. Cổng xây theo kiểu kiến trúc 2 tầng 8 mái. Tầng dưới, giữa cómột cửa xây kiểu vòm, hai bên có hai cột trụ trên lắp nghê chầu. Tầng trên giữacổng có bức đại tự đề: “Trung sơn tiểu thất” (ngôi miếu nhỏ trong núi). Hai bêncó đề câu đối và tượng hai võ sỹ. Mặt sau cổng đắp hổ, mỗi con một bên.
Đền Tổ mẫu Âu Cơ
Đền Mẫu Âu Cơ
Được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12/2004. Đền được xâydựng trên núi ốc Sơn (núi Vặn) theo kiến trúc truyền thống với cột, xà, hoành,dui bằng gỗ lim, mái được lợp bằng ngói mũi hài, tường bằng gạch bát. Đền chínhcó diện tích 137m2, làm theo kiểu chữ Đinh. Bên cạnh đền chính có nhà Tả vũ,nhà Hữu vũ, nhà Bia, Trụ biểu, Tứ trụ, cổng Tam quan, nhà tiếp khách và hoaviên.
Trong đền có tượng thờ Mẹ Âu Cơ và hai Lạc hầu, Lạc tướng. Đường đi lên đềnđược xây bằng 553 bậc đá Hải Lựu.
Bảo tàng Hùng Vương
Hiện vật cổ của bảo tàng Hùng Vương
Bảo tàng Hùng Vương được khởi công xây dựng vào năm 1996 và được khánh thànhđúng ngày khai hội Đền Hùng năm Quý Mùi (2003) do Tổng Bí thư Đỗ Mười cắt băngkhánh thành. Với gần 700 hiện vật gốc trên tổng số hơn 4.000 hiện vật có trongBảo tàng, 162 bức ảnh, 4 bức tranh gốm, 5 bức tranh sơn mài, 9 bức gò đồng, 5hộp hình, một nhóm tượng lớn và nhiều hiện vật khác được trưng bày đã khắc hoạchủ đề tổng quát: “Các Vua Hùng dựng nước Văn Lang trên mảnh đất Phong Châu lịchsử”.
Phần trưng bày của Bảo tàng Hùng Vương được tập trung vào 3 chủ đề chính:
Giới thiệu giai đoạn văn hoá Hùng Vương bằng các hiện vật liên quan đến thờiđại Hùng Vương tìm được trên đất Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
Giới thiệu việc hình thành khu di tích Đền Hùng và ý thức xây dựng khu di tíchĐền Hùng của nhân dân cả nước.
Tình cảm của nhân dân, sự quan tâm của người đứng đầu Nhà nước phong kiến trướcđây, của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng ngày nay đối với Đền Hùng. ĐềnHùng vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là một di tích lịch sử - văn hóa đặc biệt quantrọng đối với người Việt Nam.Về với Đền Hùng là về với cội nguồn dân tộc, để tự hào về dòng giống tiên rồngđang chảy trong huyết mạch của mỗi người dân Việt Nam!
|