Diễn đàn Trái Tim Yên Bái 2024

 Quên mật khẩu
 Đăng ký
Xem: 1199|Trả lời: 5
Thu gọn cột thông tin

Những kinh nghiệm trong học tập và thi cử

 Đóng [Lấy địa chỉ]

Viết tâm trạng

Đăng lúc 4-10-2008 10:26 PM | Xem tất |Chế độ đọc

Mời bạn đăng ký để giao lưu kết bạn nhé <3

Bạn phải đăng nhập để xem được nội dung, nếu bạn chưa có tài khoản? hãy Đăng ký

x
Những kinh nghiệm "xương máu" rút ra từ khi bạn là học sinh... Hãy vào đây học tập và chia sẻ, biết đâu bạn sẽ giúp ra được những kinh nghiệm quý báu cho chính mình

                               
Đăng nhập/Đăng ký mở rộng


No Spam Here !

[ Tớ mở topic này ..với hi vọng giúp bản thân và những bạn nào đang là hs sẽ có kết quả tốt hơn ^^ Nếu có thể tớ sẽ updat thường xuyên ..Hi vọng có thể dán nó lên ]
 Tác giả| Đăng lúc 4-10-2008 10:27 PM | Xem tất
1.Những điều cần lưu ý trước và trong khi làm bài Thi viết

Đầu tiên là phải giữ gìn sức khoẻ ổn định trong những ngày thi, do đó, những ngày gần thi không nên học quá nhiều, chú ý ăn, ngủ điều độ, không thức quá khuya. Sức khoẻ là yếu tố quan trọng số một trong việc thi cử.


Để vận dụng được những kiến thức đã học vào Bài Viết Viết làm, cần hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, tự tin để chọn phương án giải quyết thật khoa học và chính xác. Trước khi mở đề thi, thường có khoảng thời gian chờ đợi khá dài, để tránh căng thẳng, nên nhắm mắt, thở đều, không nên bận tâm đến những suy nghĩ vu vơ như lo lắng điểm cao hay thấp, đỗ hay trượt, cần tập trung tất cả tinh thần để phân tích đề thi và làm Bài Viết Viết.



Phải đọc kỹ đề thi, đọc chậm từng câu, gạch dưới những câu, chữ quan trọng, tránh hiểu nhầm dẫn đến làm Bài Viết Viết lạc đề. Đôi thi thang điểm của hai câu giống nhau, nhưng mức độ khó của mỗi câu khác nhau, do đó, nên chọn câu dễ làm trước.



Không nên tốn quá nhiều thời gian vào việc làm nháp, bởi có nhiều trường hợp làm nháp xong đã hết giờ, thí sinh nộp tờ nháp thay Bài Viết Viết thi, nhưng tờ nháp không phải là Bài Viết Viết thi hợp lệ nên sẽ không được chấm điểm. Bởi vậy, chỉ nên làm nháp những phép tính quan trọng hay gạch đầu dòng những ý cơ bản. Không nên sợ Bài Viết Viết thi bị trừ điểm vì gạch xoá bởi phần lớn, giám khảo chỉ chấm xem Bài Viết Viết làm đúng hay sai.



Khi trình bày Bài Viết Viết làm phải làm chậm rãi, từ tốn; riêng với các môn toán, lý, hoá, nên trình bày đầy đủ các bước trung gian, càng vội càng dễ sai.



Ngoài ra, nếu trình bày đầy đủ, khi phát hiện sai sẽ dễ tìm và sửa chính xác hơn. Nếu làm Bài Viết Viết xong vẫn còn thừa thời gian, nên kiên nhẫn đọc đi đọc lại Bài Viết Viết làm nhiều lần, không nên nộp Bài Viết Viết sớm.

2.Kinh nghiệm học và ôn tập Hóa :

1. Củng cố và bổ sung các nội dung trọng tâm của chương trình lớp 10 gồm các vấn đề sau:
a) Các vấn đề liên quan đến phản ứng oxy hóa khử:
- Quy tắc tính số oxy hóa.
- Các mức oxy hóa thường gặp và quy luật biến đổi chúng trên phản ứng của các nguyên tố quan trọng: Cl, Br, I, S, N, Fe, Mn.
- Phải biết cân bằng tất cả các phản ứng khi gặp (đặc biệt bằng phương pháp cân bằng điện tử; chú ý các phản ứng của sắt, ôxít sắt, muối sắt).
- Phải nắm thật chắc các công thức viết phản ứng gồm: ôxít; kim loại; muối phản ứng với axit; muối phản ứng với muối; kim loại phản ứng với muối; phản ứng nhiệt luyện.
b) Các phản ứng của nhóm nguyên tố halogen (Cl, Br, I); S
Chỉ cần đọc để viết được các phản ứng coi như là đủ.
c) Cấu tạo nguyên tử - Bảng hệ thống tuần hoàn:
- Yêu cầu phải nắm chắc đặc điểm cấu tạo; khái niệm về hạt; mối liên hệ giữa các loại hạt.
- Đặc điểm, nguyên tắc xếp nguyên tố; quy luật biến thiên tuần hoàn.
- Viết được cấu hình electron; xác định vị trí nguyên tố trên bảng hệ thống tuần hoàn.
- Sự tạo thành ion.
2. Các vấn đề ở chương trình lớp 11, ở phần này cần xem lại các vấn đề sau:
a) Các Bài Viết toán về nồng độ dung dịch, độ pH, độ điện ly, hằng số điện ly.
b) Nắm chắc bảng tính tan, để xây dựng các phản ứng xảy ra trong dung dịch theo cơ chế trao đổi ion (ví dụ phải nhớ trong dung dịch phản ứng giữa các ion với nhau phải thỏa điều kiện là sinh ra chất kết tủa hay chất bay hơi hoặc chất điện ly yếu).
c) Xem lại các quy luật giải toán bằng phương pháp ion: cách viết phương trình phản ứng dạng ion; biết dựa trên phương trình ion giải thích các thí nghiệm mà trên phân tử không giải thích được (ví dụ khi cho Cu vào dung dịch hỗn hợp gồm Cu (NO3)2, HCl thấy có khí NO bay ra hay cho Al vào dung dịch hỗn hợp gồm NaOH, NaNO3, NaNO2, thấy sinh ra hỗn hợp 2 khí có mùi khai;...)
d) Các khái niệm axit, bazơ, lưỡng tính, trung tính theo Bronsted:
Vì phần này các em thiếu dấu hiệu nhận biết chúng, nên khi gặp các em lúng túng và thường kết luận theo cảm tính, do đó chúng tôi gợi ý nhanh các dấu hiệu nhận biết axit, bazơ, lưỡng tính, trung tính:
* Các gốc axit của axit mạnh (Cl-, NO-3, SO2-4 ,...) và các gốc bazơ của bazơ mạnh (Na+, Ka+, Ba2+, Ca2+) được xem là trung tính.
* Các gốc axit của axit yếu (ClO-, NO-2, SO2-3 ,...) được xem là bazơ.
* Các gốc bazơ của bazơ yếu (NH+4 , Al (H2O)3+) và các gốc axit (có H phân ly thành H+) của axit mạnh được xem là axit.
* Các gốc axit (có H phân ly thành H+) của axit yếu: lưỡng tính.
e) Cách áp dụng các định luật bảo toàn điện tích, định luật bảo toàn khối lượng trong các Bài Viết toán dung dịch.
f) Xem kỹ các phản ứng của nitơ và hợp chất nitơ; phốt pho (xem sách giáo khoa lớp 11 và các Bài Viết tập chương này ở quyển Bài Viết tập hóa học lớp 11).
g) Các phản ứng của hydrocacbon:
- Phản ứng cracking. - Phản ứng đề hydro hóa - Phản ứng hydro hóa.- Phản ứng cộng Br2.- Phản ứng cộng nước của anken, ankin.- Phản ứng của ankin -1 với Ag2O/NH3. - Phản ứng tạo P.E; P.V.C; T.N.T; cao su Buna; cao su.
Bu na-S.- Phản ứng của benzen; toluen; styren.
3. Các nội dung của chương trình 12:
a) Với các hợp chất chứa hữu cơ chứa C,H,O: Chủ yếu xem các phản ứng của rượu; andehyt; axit; este; phenol; gluxit.
b) Nhóm nguyên tố C, H, N: Các phản ứng của sángin với axit, đặc biệt xem kỹ anilin, chú ý phenylsángoniclorua.
c) Cuối cùng xem nhóm nguyên tố C, H, O, N gồm các hợp chất quan trọng sau đây:
- Axit sángTrong: chủ yếu có phản ứng trung hòa, phản ứng tạo nhóm peptit; phản ứng thủy phân nhóm peptit.
- Este của axit sángTrong: có 2 phản ứng chính.
- Muối sángoni đơn giản (R-COO-NH4) cũng viết 2 phản ứng chính.
- Muối của sángin đơn giản R-COO-NH3-R’.
- Hợp chất Nitro R-(NO2)n: Xem phản ứng điều chế và chỉ có phản ứng tạo sángin (phản ứng với [H}).
- Các hợp chất đặc biệt: Urê, Caprolactsáng; tơ nilon - 6,6; tơ caprôn.
d) Phần vô cơ: Xem các phản ứng của Al; Fe; Na, K; Mg, Ca.
e) Đặc biệt cần để ý thêm phần ăn mòn kim loại; nước cứng; điều chế kim loại; các Bài Viết toán áp dụng phản ứng nhiệt luyện, các Bài Viết toán kim loại phản ứng với axit; phản ứng với muối.
 Tác giả| Đăng lúc 4-10-2008 10:29 PM | Xem tất
3.Thời gian nào giúp bạn tiếp thu bài nhanh nhất :

Không phải thời gian nào bạn cũng có tốc độ tiếp thu bài như nhau. Ðêm khác với ngày, sáng khác với chiều và xế khác với trưa v.v...

Vậy muốn xác định thời gian tiếp thu bài nhanh nhất là thời gian nào, bạn hãy áp dụng những phương pháp sau đây:


1. Nhẩm lại bài trước khi lên giường ngủ:

Trong ngày học các môn và đêm trước khi rời bàn học để lên giường ngủ, bạn nên xem lại bài cho ngày mai. Bạn nhớ ghi các môn bài mà bạn biết sáng ngày mai lên lớp bạn sẽ trả. Bạn lên giừơng trước giờ qui định ngủ ít nhất là một tiếng. Ví dụ bạn ngủ lúc 10 giờ thì lên giường 9 giờ. Phòng ngủ chỉ nên để ánh sáng lờ mờ, giúp tiềm thức bạn không bị động.

- Bạn bắt đầu hệ thống lại bài, từng môn, từng phần, thật chắc chắn nếu có chỗ nào quên sót bạn cần có đèn bấm lôi ngay mẫu giấy đã ghi ra xem lại cho chính xác.

Rồi bạn tiếp tục ôn lại môn khác. Bạn cũng làm lại như trên, trong tư thế nằm trong bóng đêm. Lần lượt như vậy cho đến hết các môn bài, cho đến lúc bạn thiếp đi. Trong giấc ngủ bạn sẽ không quên các điều đã học nó khắc sâu vào tâm não bạn và khó mà xóa nổi. Hình thức này giúp trí óc bạn làm việc linh hoạt, như con bò nhai lại cỏ sau những giờ phút nghỉ ngơi. Bạn cũng vậy nếu muốn bộ óc tinh nhuệ học bài mau thuộc thì hãy biết nhớ lại bài trước khi đi vào giấc ngủ đêm.

2. Thời gian giúp bạn tiếp thu bài nhanh nhất:

Qua kinh nghiệm thì thời gian đó là lúc sáng sớm khoảng 4-5 giờ trở đi. Vào giờ đó, bầu không khí còn tĩnh lặng, tâm hồn thanh thản sẽ giúp bạn dễ tập trung hơn.

Bước đầu rất có thể bạn khó thức dậy vào thời gian này. Nhưng việc gì cũng vậy, bạn chịu khó tập, chỉ mấy hôm liền sau đó bạn quen ngay. Khi thức dậy, việc đầu tiên làm vệ sinh cá nhân xong bạn nên tập vài động tác thể dục. Phần này nam cũng như nữ cũng cần phải thực hiện. Bạn tập thể dụng là để bảo vệ và duy trì sức khỏe. Có sức khỏe bạn mới có thể học tập tốt được.

- Sau đó bạn nghe trong người khỏe khoắn hết cơn buồn ngủ, bấy giờ là lúc bạn ngồi vào bàn học. Như hồi trước khi !ên giường ngủ, bạn đã ôn lại bài ngay trên giường. Vậy bây giờ chắc chắn óc bạn đang còn nhớ các môn bài đó, bài mà bạn phải trả khi lên lớp vào sáng nay.

Ví dụ: Bài sáng nay có các môn như: Sinh - Sử Toán. Bạn có tất cả là 3 môn, mà ba môn học này bạn đã học suốt chiều hôm qua theo thời gian nhất định mà bạn đã vạch ra là:

1g - 2g : bạn học môn Sử.

2g - 4g : bạn học và làm Toán.

Sau đó là bạn nghỉ giải lao 30 phút.

4g30 - 6g: bạn học môn Sinh.

Ngoài ra, bạn còn có một khoảng thời gian học về đêm từ 7g - 9g. Hai giờ này giúp bạn củng cố lại các phần bài bạn chưa thuộc kỹ, chưa nắm bắt. Thời gian này bạn hệ thống bài một cách chắc chắn hơn. Và trước khi lên giường ngủ, bạn còn có một giờ nữa để nhẩm lại bài. Bây giờ trước mặt bạn, các môn bài được học thuộc làu và bài tập toán của hôm nay cũng đã giải quyết xong. Tuy nhiên, bạn cũng nên ngồi lại trước chồng vở, nhưng đừng mở sách, bạn tự lần lượt ôn lại từng môn xem bạn đã nắm chắc kiến thức cơ bản một cách nằm lòng chưa? Phần nào quên - bạn mở sách - và phải giải quyết ngay tại chỗ. Môn nào cũng thế vì đây là giờ học quyết định cuối cùng trước khi bạn đến lớp. Sau cùng bạn cũng nên mở bài tập toán ra, rà xét lại lần cuối xem các phần bài tập bạn làm có chính xác chưa. Có chỗ nào thiếu sót không? Lo mà chỉnh đốn ngay nếu có.

Thời gian buổi sáng này của bạn phải nói là thời gian ôn tập thì đúng hơn. Bạn ôn lại lần cuối cho chắc chắn trước giờ lên lớp. Còn một vấn đề nữa là cần dành một ít thời gian để xem trước phần bài mới. Bạn nên xem trước để "làm quen" với nó. Ðể đến lúc thầy cô giảng bài ở lớp bạn sẽ mau chóng nắm bắt. Nói một cách là bạn sẽ tiếp thu mau lẹ hơn. Nhất là bộ môn toán là bạn cần phải chuẩn bị bài mới trước, nếu bạn không muốn gặp tình trạng lúng túng ngỡ ngàng, khi thầy cô đặt vấn đề bài mới với bạn.

Nói tóm lại: Thời gian mà bạn tiếp thu bài mau thuộc nhất là thời gian từ 4g - 6g buổi sáng. Bạn nên tận dụng giờ học này và nên thập thói quen tốt đó trong suốt đời học sinh của bạn. Chắc chắn bạn sẽ không lùi bước trong việc học.

Có thắc mắc rằng vậy thì giờ nghỉ quá ít ỏi liệu có đủ sức khỏe để học tập không? Ban ngày bạn dành thời gian nghỉ trưa một giờ, và 6 giờ của đêm để ngủ. Bạn ngủ với giấc ngủ thật sâu, không mộng mị là đủ đem lại sức khỏe cho bạn. Không phải ngủ nhiều mới có sức khỏe tốt đâu.

Làm việc ăn uống, ngủ nghỉ điều hoà thì sức khỏe mới bảo đảm vững chắc. Bạn cứ hãy thực hiện đi sẽ thấy không hề giảm sút sức khỏe được. Tuy nhiên ngày chủ nhật bạn nên dành thời gian giải trí nhiều, để tăng cường cho bộ não những mới lạ và tạo điều kiện tốt cho sức khỏe như chơi thể thao, đi tham quan... tùy năng khiếu và sở thích mà bạn tự tìm cho mình những trò chơi và những việc giải trí phù hợp và lành mạnh.
 Tác giả| Đăng lúc 8-10-2008 04:06 PM | Xem tất
Các phương pháp ghi nhớ
Các phương pháp ghi nhớ

Muốn học bài mau thuộc nhất thiết phải học có  phương pháp. Qua các chương trước chúng tôi đã trình bày một số phương pháp để  giúp bạn trong việc học bài sao cho mau thuộc. Trong chương này xin hướng dẫn  bạn đi sâu vào chi tiết hơn khi thực hiện các phương pháp ấy.


1. Ghi  thành dàn bài:

Thực tế có nhiều bạn chỉ nghe nói ghi dàn bài, nhưng chưa  rõ phương thức ghi cụ thể ra sao.

- Trước tiên bạn đọc toàn bài môn bạn  đang học 1 lần - 2 lần - hoặc cũng có thể là 3 lần. Ðến lúc bạn nắm chắc yêu cầu  bài mới thôi. Vì có hiểu sơ bộ bài, bạn mới lập được dàn bài. Bạn chia nội dung  toàn bài thành 3 phần chính (Ví dụ là A - B - C). Trong phần A - có nhiều mục  nhỏ, bạn có thể sắp xếp các mục nhỏ ấy gọi là "tiêu đề" bằng những chữ số:1, 2,  3...

- Và tiếp theo các phần B-C cũng thế. Phần nào cũng có những tiêu  đề riêng.

- Nhưng trong mỗi phần đều có những yêu cầu quan trọng của nó.  Bạn nên ghi nhận cụ thể các phần quan trọng ấy trong mỗi phần của dàn bài, có  thể gạch dưới hoặc viết đậm để dễ nhớ.

- Ðã có dàn bài chi tiết rồi sẽ  là điều kiện giúp bạn dễ dàng việc học bài sau đó.

2. Nhẩm trong óc:  

Bạn hệ thống bài bằng cách "nhẩm trong óc" nhẩm từng phần một của dàn  bài, chỗ nào quên bạn dừng lại, lật dàn bài ra xem lại. Bạn cứ tiếp tục nhẩm  sang phần khác và đừng quên các phần quan trọng đáng ghi nhớ, đừng bỏ sót một  chi tiết nào. Lần lượt như vậy cho đến hết toàn bài.

- Lần thứ hai, bạn  bắt đầu nhẩm lại tất cả có hệ thống toàn bài hơn.

- Lần này bạn ghi nhận  phần đã bị quên. Bạn mở sách xem lại, ghi ra giấy hoặc đánh dấu những phần đó.  Bạn tìm ý những chỗ quên sót để rồi học lại cho nhuần nhuyễn.

- Lần thứ  ba, bạn hệ thống lại bài và bạn đặt thành câu hỏi rồi tự giải quyết trong óc câu  hỏi ấy. Bạn xem lại việc trả lời có thông suốt phân minh chưa. Nếu chỗ nào vướng  mắc lật dàn bài ra xem.

* Một bài học gọi là được nắm chắc là khi  bạn:

- Trả lời gãy gọn các câu hỏi đặt ra.

- Hiểu bài thông suốt  từng phần cũng như toàn bài.

- Nắm vững trọng tâm bài học một cách chuẩn  xác. Nếu là môn học như Toán - Lý- Hóa- Sinh thì các quy tắc các công thức, các  định lý, định đề... bạn phải thuộc thật nhuần nhuyễn mới được.

Môn Văn:  Cần ghi nhớ các tên và tiểu sử tác giả. Thuộc kỹ các bài thơ, các đoạn văn xuôi,  chọn lọc và nhớ bài thơ này của tác giả nào, bài văn kia tác giả là ai. Tránh  tình trạng lộn xộn, lẫn tên tác giả này với tác giả khác, hoặc bài văn xuôi mà  lại ghi tên tác giả là một nhà thơ v.v...

Các phần văn xuôi hay thơ, bạn  đều phải nắm bố cục chặt chẽ, chủ đề tư tưởng và nghệ thuật mà tác giả đã sử  dụng. Ngoài ra bạn nên trích dẫn những đoạn văn hay, bài thơ hay, ghi vào sổ tay  bạn để dễ học thuộc. Thuộc nhiều thơ văn để tạo vốn từ phong phú khi làm bài.  

Môn Sử, Ðịa: Cần nắm rõ đặc thù từng môn để dễ học.

- Sử: Cần  nhớ chính xác các mốc thời gian của sự kiện và luyện cách phân tích tổng hợp để  rút ra được những bài học lịch sử một cách chính xác.

- Ðịa: Nắm rõ đặc  điểm địa thế từng bước từng vùng, tên sông, tên núi, nguồn tài nguyên khoáng  sản.v.v...

3. Ghi ra giấy:

Ngoài cách ghi thành dàn bài chi  tiết, bạn có thể ghi riêng ra giấy. Nhất là những công thức, những định lý, định  đề. Từ giấy xếp lại bỏ túi để lâu lâu khi cần nhẩm lại, nếu quên bạn có thể mở  ra xem.

Nhưng phải ghi bằng cách nào?

Ghi những điểm chính yếu  nhất, còn điều quan trọng là bạn phải học thuộc.

Nói tóm: Khi ghi bạn  chỉ tóm tắt phần quan trọng, sao cho khi mở trang giấy ra nhắc nhở bạn hệ thống  bài học bằng trí nhớ và một cách hoàn hảo mà không cần mở sách.

Tránh  ghi rườm rà, dư thừa, vừa mất thời an vô mà ích lại phí sức. Nói chung làm thế  nào để bạn có thể tổng hợp các phương pháp (nhẩm nhớ - ghi chép - và lập dàn  bài) sao cho tạo được điều kiện để bạn đọc bài mau thuộc đó là đíều quan trọng  nhất.

Một điểm nữa là bạn phải hết sức sử dụng các phương pháp ấy thật  hài hòa và kết hợp chặt chẽ để việc học tập của bạn có kết quả mỹ mãn theo ý  muốn. Không nhất thiết phải áp dụng tất cả các phương pháp mà tùy khả năng vận  dụng cho phù hợp.




 Tác giả| Đăng lúc 8-10-2008 04:07 PM | Xem tất
Một số kinh nghiệm khi làm bài thi ĐH

Một số kinh nghiệm khi làm bài thi ĐH


Một số kinh nghiệm cho các bạn  thí sinh khi thi môn Sinh, Văn và Ănh văn. Hy vọng rằng một số kinh nghiệm nhỏ  này giúp bạn tự tin hơn và đạt hiệu quả cao hơn khi làm bài thi.

Môn  Sinh: Cần chú ý hai cách ra đề

Trọng tâm chương trình: Gồm 3 phần: Phần  I: Sinh thái học; phần II: Cơ sở di truyền học; phần III: Sự phát sinh và phát  triển của sự sống. Ngoài ra, còn có một số bài về tế bào, hiện tượng sinh sản và  sự phân bào ở lớp 10.

Phần II là phần trọng tâm với các chương: Chương I:  Cơ sở vật chất và cơ chế di truyền; chương II: Các quy luật di truyền; chương  III: Biến dị; chương IV: Ứng dụng di truyền học vào chọn giống; chương V: Di  truyền học về người.

Chương trình I, II, III là đáng quan tâm nhất vì  chứa đựng các kiến thức liên quan đến các chương khác và cũng thường hỏi trong  các kỳ tuyển sinh vào đại học. Đặc biệt, đa số các bài tập sinh học đều từ ba  chương đó mà ra.

Phương pháp học: Về ký thuyết: Trước hết các em phải đọc  kỹ giáo trình, nghiền ngẫm cho hiểu rõ từng ý, có đối chiếu với hình vẽ cho dễ  hiểu, thậm chí học thuộc cả hình vẽ. Không nên học bài từ các câu hỏi đã được  giải sẵn. Sau đó các em nên ghi lại các kiến thức đáng nhớ theo kiểu dàn bài chi  tiết, nếu cần thì nên ghi thành hồ sơ, thành bảng để hệ thống hoá, tổng hợp các  kiến thức. Gần đến kỳ thi vài ngày, có thể các em chỉ nên xem đi xem lại dàn bài  chi tiết nói trên.

Về bài tập: Có loại bài tập phải tính ra thành con số  để được chấm điểm như toán ADN, toán NST, DT quần thể. Nhưng lạ lẫm chính là  toán lai (quy luật di truyền) và toán phả hệ do chúng thiên về lý giải, biện  luận. Đối với loại toán đầu, các công thức và công cụ toán học là phương tiện để  giải nhanh bài tập sinh học. Do đó, việc chuyển đổi từ kiến thức lý thuyết sang  công thức tính toán sẽ giúp các em thuận lợi hơn trong việc giải bài tập sinh  học. Đối với loại toán lai và toán phả hệ, thì các em cần phải giải thích quy  luật chi phối các thí nghiệm hoặc bện trạng ở một phả hệ. Do đó, việc nắm vững  kiến thức lý thuyết sẽ giúp các em thuận lợi để lý giải, biện luận khi giải bài  tập loại này.

Làm bài: Cần chú ý cách ra đề để làm bài cho phù hợp. Có  thể thấy từ trước đến nay có hai xu hướng ra đề: Tự luận dài và tự luận ngắn. Ở  loại hình thức nhất, đề thi gồm từ 2 đến 3 câu hỏi lý thuyết, 1 bài toán AND,  hoặc NST... và bài toán lai. Cách nêu câu hỏi và bài tập cũng như mức độ khó  theo kiểu bộ đề tuyển sinh vào đại học. Kiểu ra đề này thường gặp bấy lâu nay,  nhưng ít được dư luận đồng tình.

Ở loại hình thứ hai, đề thi gồm 8-15  câu hỏi, trong đó có cả bài tập. Đề này, hỏi rất căn bản, buộc thí sinh không  những nắm đầy đủ kiến thức cơ bản (rải đều trong chương trình học) mà còn phải  biết suy nghĩ để vận dụng vào tình huống hỏi chưa gặp. Mặt khác, để làm tốt kiểu  đề này, thí sinh còn phải biết diễn đạt bằng lời văn của mình chứ không phải chỉ  là bằng câu văn thuộc lòng.

Môn Anh văn: Kỹ năng viết: Phần quyết định  của bài thi

Học ngoại ngữ không phải chỉ là tiếp nhận kiến thức như các  môn học khác mà còn là rèn luyện những kỹ năng ngôn ngữ. Do đó, các đề thi Anh  văn, đặc biệt là đề thi đại học thường đòi hỏi thí sinh phải có lượng kiến thức  vững chắc và đồng thời phải có kỹ năng viết một cách chính xác.

Đề thi  đại học khối D trong những năm vừa qua ở các trường thường có hình thức khá  giống nhau, một số câu trắc nghiệm, một số câu phải làm như các bài tập văn phạm  ở trường phổ thông và một bài viết. Thường mỗi đề thi có các phần chính như  sau:

- Phần trắc nghiệm cách phát âm: Đề thi cho theo dạng trắc nghiệm,  mỗi câu có bốn từ, thí sinh phải chọn từ mà có cách phát âm khác các từ kia. Ví  dụ: A. what B. hat C. bat D. chat, thí sinh sẽ chọn A. Như trên đã nói, khi học  từ, thí sinh phải học cả cách phát âm của từ.

- Phần trắc nghiệm dấu nhấn  (trọng âm): Đề thi cho mỗi câu hỏi có bốn từ và thí sinh phải tìm một từ mà  trọng âm rơi vào vị trí khác với vị trí trọng âm của các từ còn lại: Ví dụ:  A.examinee B.ex-ample C.examine D.exception. Thí sinh sẽ chọn A vì examinee nhấn  mạnh ở vần cuối cùng, khác các từ kia.

- Phần hỏi về văn phạm: Trong  phần này, thí sinh hoặc phải làm các bài tập văn phạm dạng viết câu hay chọn  theo A, B, C, D. Dù làm dạng nào thí sinh cũng phải nắm vững các điểm văn phạm,  phải suy nghĩ thật kỹ trước khi đặt bút viết.

- Phần đọc hiểu: Thường đề  cho một bài đọc với những chỗ trống, thí sinh phải tự tìm từ mà điền vào hoặc  chọn trong những từ cho sẵn để điền vào chỗ trống. Hãy đọc đề cho kỹ, nếu đề yêu  cầu mỗi chỗ trống điền một từ thì thí sinh chỉ được điền một từ mà thôi, nếu  điền hai từ dù có đúng nghĩa cũng không được coi là làm đúng. Có thể đề cho một  bài đọc và thí sinh phải trả lời các câu hỏi khi đã đọc xong. Thí sinh cần đọc  kỹ, từ nào không biết thì nên đoán theo mạch văn. Một hình thức khác của bài đọc  hiểu là thí sinh phải đọc kỹ bài đọc rồi trả lời câu hỏi bên dưới. Câu trả lời  có thể ở dạng viết hay dạng trắc nghiệm A, B, C, D.

- Phần thi về kỹ năng  viết: Có thể nói đây là phần quyết định của bài thi. Phần thi viết có thể có bốn  hình thức. Thứ nhất là kết hợp các câu đơn thành câu kép hay câu phức. Thứ hai  là đọc một câu cho sẵn rồi viết lại một câu khác có cùng ý với câu trên nhưng  hình thức khác theo hướng dẫn. Thứ ba là viết câu văn theo những từ và nhóm từ  cho sẵn. Thứ tư, khó hơn nhiều, là viết đoạn văn ngắn (khoảng 100-150 từ) về một  chủ đề nào đó.

Môn Văn: Làm đúng yêu cầu của đề và viết có tính sáng  tạo

Chuẩn bị trạng thái trước khi vào làm bài thi: Làm văn đòi hỏi phải  có kiến thức, nhưng cũng đòi hỏi phải có xúc cảm, vì vậy chuẩn bị một tâm trạng  thoải mái và hưng phấn trước khi làm bài là rất quan trọng.

Đọc kỹ đề và  làm dàn ý cho bài làm: Khi nhận được đề thi, các thí sinh nên đọc kỹ đề thi,  gạch chân những nội dung quan trọng, sau đó làm dàn bài (ngắn gọn). Trong quá  trình làm bài nếu chợt nhớ ra điều gì cần bổ sung thì viết thêm vào dàn bài. Làm  dàn bài trước sẽ tránh được tình trạng thiếu ý, sẽ chủ động hơn trong khi viết  và phân bố hợp lý thời gian cho từng phần.

Làm bài theo đúng yêu cầu của  đề: Để tránh học tủ và học thuộc lòng văn mẫu, người ra đề thường có khuynh  hướng không cho nguyên một tác phẩm, một đề nào đã được phổ biến rộng rãi. Có  nhiều đề chỉ yêu cầu phân tích một khía cạnh, một vấn đề nào đó của tác phẩm. Có  đề lại liên kết nhiều tác phẩm lại thành một vấn đề. Thí sinh phải tuân thủ chặt  chẽ những yêu cầu của đề ra. Có học sinh không nắm yêu cầu của đề hoặc học tủ,  học thuộc lòng văn mẫu nên bài làm thường bị cho điểm rất thấp. Có thí sinh cho  rằng thà làm thừa còn hơn thiếu. Đây là một quan niệm sai lầm. Thiếu thì không  có điểm, nhưng thừa thì bị coi là không hiểu đề nên cũng bị hạ điểm.

Viết  nháp phần mở bài và phải có phần kết luận: Nên làm nháp phần nhập đề để tạo hứng  khởi và giọng điệu phù hợp cho toàn bài. Bằng mọi cách thí sinh phải viết phần  kết luận. Bài viết dù dài mấy mà không có vài dòng kết luận. Bài viết dù dài mấy  mà không có vài dòng kết luận thì vẫn bị coi là bài làm dở dang, không thể có  điểm thật cao, nhất là điểm tối đa.

Trình bày sạch, đẹp, viết đúng chính  tả ngữ pháp: Bài viết trình bày sạch đẹp, ít gạch xoá thường gây được thiện cảm  của người chấm. Có nhiều khi đáp án cũng quy định điểm thưởng cho những bài viết  này.

Đọc lại bài trước khi nộp: Nên chủ động kết thúc bài viết cho kịp  thời gian. Không nên tham lam viết cho hết kiến thức của mình. Nên hoàn tất bài  làm trước 5-10 phút, sau đó nên xem qua một lần và sửa lại những chỗ sai, những  chỗ khó đọc.

Khuyến khích sáng tạo: Những bài có cảm nhận riêng, tinh tế,  diễn đạt hay, sáng tạo thường được đánh giá cao, có khi được đọc chung cho cả  hội đồng chấm thi. Những bài viết có "hơi hướng" văn mẫu (văn của các trung tâm  luyện thi, văn trong sách bộ đề, các sách hướng dẫn làm bài) thường gây phản  thiện cảm, ít khi được cho điểm cao, thậm chí còn bị trừ điểm.



Đăng lúc 8-10-2008 04:12 PM | Xem tất



      Học Tiếng Anh bằng bản đồ tư duy


Bạn đã bao giờ dùng phương pháp mind map (bản đồ tư duy)?
Nếu chưa, bạn hãy thử nhắm mắt lại và tưởng tượng đến cấu trúc của những chiếc mạng nhện nhé!
Trông những chiếc mạng nhện có vẻ rất yếu ớt nhưng thực tế lại rất bền chắc và là cả một kiệt tác nghệ thuật đấy bạn ạ.

Nếu kiệt tác ấy được đem vào áp dụng trong việc dạy ngoại ngữ và nhất là kỹ năng viết một cách hiệu quả thì ắt hẳn bạn sẽ trở thành một nghệ sĩ trong sử dụng ngôn ngữ rồi.
1, Những điểm cộng của phương pháp mind map

Sử dụng phương pháp mind map hiệu quả nhất là trong các hoạt động pre-writing.

Topic của bài viết giống như những chú nhện và xung quanh là các luận điểm, luận cứ chính là các đầu mối giữ vững một mạng nhện và có mối liên kết chặt chẽ với nhau.
Phương pháp này giúp người học thiết kế được một dàn ý chi tiết cho bài viết, xây dựng những luận điểm nhờ đó thấy rõ mối quan hệ giữa chúng. Cũng bởi đặc tính hấp dẫn, bắt mắt và dễ hiểu, người học sẽ thấy hưng phấn hơn khi nhìn vào mind maps - tác phẩm của riêng họ. Điều này cũng thôi thúc người học phải làm cách nào cho tác phẩm đó trông không chỉ đẹp mà còn phải lôgic cũng giống như lập một dàn ý mạch lạc, chặt chẽ.
2 ,Làm thế nào để tạo được một mind map?

Bước 1 - Chọn topic

Thông thường, bạn sẽ đưa ra một topic và học viên cứ theo thế mà viết.

Tuy nhiên, tại sao bạn không thử để học viên thử tự chọn cho mình một chủ đề mà họ yêu thích hoặc quan tâm. Chính điều đó sẽ tạo hứng thú cho học viên viết về theo sở thích và thể hiện những kiến thức họ có về đề tài đó. Nhưng từ một topic khai triển ra các ý đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của giáo viên.
Bạn có thể hướng dẫn học viên cách viết các cụm danh từ sao cho ngắn gọn, dễ hiểu. Ví dụ với một chủ đề như "Why do people start smoking?" (Tại sao mọi người lại hút thuốc?), bạn nên thực hành một vài cấu trúc liên quan đến việc giải thích nguyên nhân cho những loại câu hỏi chỉ mục đích.

Bước 2- Ghi chép

Đối với mỗi chủ đề, bạn cũng nên yêu cầu học viên dành khoảng 1-2 phút để suy ngẫm về nó và ghi lai các ý tưởng. Nếu chưa biết diễn tả bằng tiếng Anh, học viên có thể sử dụng tiếng Việt hay từ điển.

Sau đó, học viên thảo luận theo các nhóm để so sánh, đối chiếu các luận điểm và bổ sung thêm vào mind map. Bước này giúp học viên chữa lỗi cho nhau rất hiệu quả và có thể trao đổi những ý tưởng mà ở trên học viên không thể diễn tả bằng tiếng Anh được.

Bước 3- Nhận xét
Ở bước này, bạn tập hợp các sơ đồ tư duy lên bảng, càng nhiều càng tốt.

Bạn có thể bổ sung các ý kiến, chữa lỗi và loại bỏ những luận điểm thừa. Nhờ thế, học viên lĩnh hội rất nhanh các cách diễn đạt, cách dùng từ trong tiếng Anh. Sơ đồ có thể thay đổi, bổ sung thêm hay bỏ đi các nhánh khi có những luận điểm mới hay có những luận điểm không phù hợp. Hạt nhân chính là topic, sau đó là các nhánh gồm các luận điểm chính, từ các luận điểm chính chia ra các nhánh nhỏ hơn là các luận cứ, các ví dụ hay thống kê nào đó nhằm hỗ trợ cho các luận điểm.

Bước 4- Triển khai sơ đồ tư duy

Bước tiếp theo, từ sơ đồ tư duy bạn phải khéo léo chuyển chúng sang dạng dòng kẻ ngang.

Trước tiên bạn nên hướng dẫn người học quan sát cấu trúc tổng thể của một bài viết sau đó triển khai ý. Đừng quên nhắc người học rằng điều quan trọng nhất trước khi làm một bài viết là phải luôn quan tâm đến đối tượng đọc bài viết của mình.
Ví dụ: bạn viết một bài báo cho tạp chí, đối tượng bạn quan tâm là độc giả của báo. Nắm bắt được điều đó, người học sẽ biết cách sắp xếp các ý theo trật tự và văn phong mà họ cho là hợp lý đối với người đọc.

Bước 5- Viết

Học viên nên được khuyến khích thảo luận và viết theo cặp. Cứ sau 2 đoạn văn, học viên lại trao đổi bài viết cho nhau. Khi hoàn thành, 2 học viên lại đổi bài và chữa bài cho nhau.

Không những học hỏi từ những ý tưởng của nhau, phương pháp này giúp người học luôn cảm thấy chính họ như những nhà văn thực sự khi tác phẩm của mình có độc giả đọc nó, chứ không phải là “tự biên tự diễn”.

Bước 6 – Kế thừa và phát huy

Khi học viên đã quen dần với phương pháp học này, họ sẽ tích cực sử dụng chúng. Đây thực sự là phương pháp hữu hiệu trong việc học và giảng dạy kỹ năng viết.

Chúc bạn thành công với phương pháp tư duy mind map này!
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký

Quy tắc điểm

Đóng

Thông báoTrước /1 Sau

Phòng tối|Lưu trữ|Diễn đàn Yên Bái 2024 Community Guidelines |

GMT+7, 17-10-2026 09:23 AM , Processed in 0.022013 second(s), 18 queries .

Powered by Discuz! X3.4

© 2001-2013 Comsenz Inc.

Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách